Flat monkey- Xi măng tự phẳng

Sự ra đời của Flat Monkey

Xi măng tự phẳng hay còn gọi là Flat Monkey, loại vật liệu này được phát triển  đầu tiên trong giai đoạn Thế chiến II. Trong giai đoạn này người Đức đã nghiên cứu để có thể sữa chữa bù lấp khẩn cấp nền đường băng bị hư hỏng do hậu quả của bom mìn gây ra. Với đặc tính độ tự chảy cao, loại vật liệu này có thể giúp họ nhanh chóng sữa chữa nền đường băng bị hư hỏng một cách nhanh nhất có thể.

Năm 1961, trong kế hoạch đáp tới mặt trăng của NASA (Cơ quan hàng không và không gian Hoa Kỳ) tiến sĩ Luis đã đề xuất dự án cơ sở mặt trăng RSM -078, là sử dụng xi măng gốc nhựa này để thiết lập cơ sở căn cứ cho con người trên bề mặt của mặt trăng.

Tuy nhiên, dự án này đã không được thực hiện, nhưng qua đó sản phẩm này đã được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hằng ngày của người dân.

Thành phần cấu tạo

Thành phần của xi măng tự phẳng bao gồm cát thạch anh trộn với nhựa polymer, hỗn hợp phụ gia hóa học, vật liệu sàn tự chảy san phẳng.

Chính vì thế, Flat Monkey có đặc tính độ đông cứng nhanh, chịu áp lực rắn, chống mài mòn không bị nứt hoặc hay co ngót, cường độ cao, giá thành thấp. Do đó, đây là loại vật liệu thích hợp cho việc hoàn thiện bề mặt và sau đó có thể phủ sàn gạch PVC, thảm, gạch, sàn gỗ,...

Hiệu ứng tự san phẳng

Việc tự san phẳng của Flat Monkey dựa vào trọng lực để làm cho xi măng tự động chảy và làm phẳng. Mà các anh kĩ sư xây dựng thường hay gọi với cái tên là độ sụt hay còn được hiểu là tính lưu động của xi măng. Và với xi măng, độ sụt phải lớn hơn 45cm thì mới được gọi là xi măng có tính tự phẳng. Chính vì thế, vật liệu này có thể chảy rất phẳng và chảy sâu vào các khe hở để có thể đạt hiệu quả lấp đầy tốt nhất.

Để có thể tính được độ sụt hay còn gọi là tính lưu động của xi măng , trước tiên người ta sẽ cho xi măng vào một thùng chứa, khi tháo thùng chứa đường kính của xi măng bắt đầu tràn ra. Xi măng tràn ra trên mặt phẳng được bao nhiêu thì người ta người ta dựa vào đó để tính độ sụt.

Dụng cụ áp dụng tính độ sụt xi măng

Độ sụt của xi măng

Đối với các loại xi măng thông thường khi muốn đạt được độ sụt cao thì phải thêm vào đó rất nhiều nước để đổ chảy xi măng có thể chảy tốt hơn. Tuy nhiên, với xi măng thông thường khi thêm quá nhiều nước vào sẽ làm giảm độ cứng của xi măng dẫn đến việc là nền quá mềm, rất dễ nổi cát hoặc trầy xước. Bên cạnh đó, quá trình thoát nước của xi măng sẽ dễ bị tạo ra các khoang thậm chí là các lỗ hổng.

Sử dụng xi măng thông thường nền rất dễ bị sủi cát

Chính vì thế, không phải cứ thêm nhiều nước vào xi măng thông thường thì có thể đạt được độ tử chảy mong muốn giống như xi măng tự phằng.  Do đó, để có thể đạt được hiệu ứng tự san phẳng thì vẫn cần phải có một loại keo gốc nhựa liên kết với xi măng tự san phẳng.

Cường độ xi măng

Về cường độ xi măng, theo quy định GB175-2007 đối với “xi măng thông thường” sử dụng GB/T17671-1999 là phương pháp thử cường độ vữa xi măng (theo Tiêu chuẩn ISO). Phương pháp này được xác định bằng cách lấy xi măng và cát tiêu chuẩn, nước theo tỉ lệ 1:3:0.5 tạo nên mẫu thử với quy cách là 40mm*40mm* 160mm. Việc thử nghiệm sẽ được thực hiện lúc xi măng đạt 3 ngày và khi đạt 28 ngày theo các phương pháp quy định xác định cường độ nén và độ gấp uốn của xi măng.

Sau quá trình thử nghiệm, cường độ cứng của Flat Monkey đạt được 6500 PSI. PSI (Pounds/ Square inch) là đơn vị đo tiêu chuẩn của Anh Quốc về thử nghiệm độ chịu lực. Ở Việt Nam đơn vị đo cường độ thường sử dụng là M200, M250. Ngoài ra, còn có một số đơn vị tính khác như Mpa, 1 in = 2,54cm, 1p = 0,4539/kg, 1PSI = 0,070307 kg/cm2, 1 kg/cm2=14.2233348psi.

Bảng chuyển đổi cường độ bê tông thông thường

 

PSI (Ib/in2)

Mpa (1kg/cm2)

Sử dụng

1500

M105

Bê tông kém chất lượng (dùng cho san lấp)

2000

M140

Loại xi măng được trộn thủ công

3000

M210

Dùng cho sàn văn phòng

4000

M280

Dùng cho sàn tải nặng

5000

M350

Dùng cho kết cấu cầu, tàu điện ngầm

6500

M450

Để các máy khổng lồ (lò luyện thép)

Cường độ cứng của Flat Monkey đạt đến giới hạn cao nhất trong quy định sử dụng kiến trúc xây dựng. Ngoài trừ Pháo đài phòng thủ hoặc địa đạo quân đội, thì những kiến trúc thông thường sẽ không cần dùng tới loại xi măng có cường độ cứng như vậy. Còn đối với nhà máy, ngoài nhà máy luyện thép Formosa tại Đài Trung (Đài Loan) với những đế cột chịu lực hàng trăm tấn thì rất ít những nhà máy khác sẽ sử dụng tới.

Đối với xi măng thông thường để có thể trộn xi măng đạt đến cường độ trên M450 và cường độ hóa cứng trong vòng một tiếng đồng hồ, độ tự chảy kém. Chính vì thế, xi măng thông thường không thể sử dụng cho các dự án lớn.

Tuy nhiên, với Flat Monkey nó đã phá vỡ các giới hạn này bằng keo nhựa tăng cứng với công thức đặc biệt. Bên cạnh đó, vật liệu này có độ bền và tính tự phẳng tốt, chỉ cần trộn thủ công cũng có thể đạt được các thông số kỹ thuật hàng đầu của các nhà máy xi măng lớn. Flat Monkey là lựa chọn tốt nhất cho những sàn cũ bị hư hỏng.

Độ chống mài mòn

Mục đích của việc làm sàn là chống trầy xước, mài mòn tránh sự chà xát bề mặt của vật cứng gây sủi cát hoặc bị trầy xước.

Tuy nhiên, nhiều người vẫn cho rằng độ cứng càng cao thì độ chống trầy xước, mài mòn càng tốt. Độ chống mài mòn của M200 không nhất định sẽ tốt hơn M250, thông số chính của khả năng chống mài mòn là hệ số Mohs. Độ cứng Mohs là tiêu chuẩn để phân biệt cho độ cứng khoáng sản, được đề xuất bởi nhà khoáng vật học người Đức vào năm 1812.

 Một số loại sàn thường gặp

1. Sàn cát thép vàng (Cacbua Silic)

Đối với sàn loại này trước khi thi công tráng hồ dầu và mặt nền ở trạng thái bán khô thì ngay sau đó cát thép vàng hay còn gọi là Cacbua Silic phải được trải đều trên bề mặt xi măng, sau đó dùng máy mài chạy đều lên bề mặt.Để làm 1m2  sàn cần sử dụng 3.5 đến 4.2 kg Cacbua Silic thì độ chống mài mòn của sàn mới đủ. Bên cạnh đó, việc đánh đều hay không đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng chống mài mòn. Ngoài ra, việc rắc bột Cacbua Silic không đều cũng sẽ tạo nên các vệt đốm trên bề mặt.

2. Sàn đá mài

Sàn đá mài là phiên bản được nâng cấp từ sàn cát thép vàng. Độ dày của nền cát thép vàng ít nhất là 2cm, và đá mài cần dày ít nhất 5cm, nếu không rất dễ bị nứt. Khả năng chống mài mòn chủ yếu là do lượng đá bên trong có khả năng chống mài mòn, mật độ của đá, đá lớn hay nhỏ. Độ cứng của đá đều ảnh hưởng nghiêm trọng  đến cường độ của nền sau khi hoàn thành, hơn nữa việc các viên đá có kích thước khác nhau thì sau khi hoàn thành đều phải mài bóng qua ít nhất hai lần nếu không độ phẳng sẽ không đủ.

3. Sàn tăng cứng hóa học

Sàn tăng cứng hóa học  (sàn nano) là chất biến tính bề mặt được sử dụng phổ biến nhất. Chất làm cứng sàn kết tinh thẩm thấu là một chất lỏng nano hỗn hợp có thể xâm nhập hiệu quả vào bê tông và bám dính hydrat .

chấ làm cứng có thể xâm nhập vào bê tông từ 10 mm để có thể làm cho bê tông trở nên dày đặc và cứng, giúp cải thiện độ cứng bề mặt.

Chất tăng cứng được chia thành làm hai loạ gốc natri và gốc lithium. Giá của hai loại chất này chênh lệch rất nhiều, hiện nay có nhiều nhà sản xuất thường sử dụng Natri làm giả lithium. Chính vì thế, thường sau khoảng nửa năm trên sàn sẽ hình thành các đốm trắng, để có thể loại bỏ nó người ta sẽ phải mài bóng nếu không khó có thể loại bỏ.

Nếu sử dụng trong nhà xưởng cũ  thì thông thường các vết nứt và chỗ nền hư hỏng phải được cán lại bằng một lớp xi măng, sau đó mới có thể làm tăng cứng được. Chính vì thế, đối với loại sàn này rất tốn thời gian cho việc thi công.

4. Epoxy

Epoxy là sơn hai thành phần gồm sơn và chất đóng rắn. Sàn Epoxy đang được nhiều công trình sử dụng. Tuy nhiên, đối với loại sàn này chịu UV kém, quá trình đóng cứng phụ thuộc vào nhiệt độ. Ưu điểm duy nhất của Epoxy  so với chất nền xi măng là kháng axit và kiềm. Độ bền và độ mài mòn thấp hơn nhiều so với xi măng. 

Bên cạnh đó, thời tiết ở Việt Nam mùa mưa thường kéo dài nửa năm. Chính vì thế, nếu quá trình dự án thi công trong thời gian gấp rút, hơi nước trong sàn không được loại trừ dẫn đến sàn chưa hoàn toàn khô ráo. Điều này, dẫn đến các hiện tượng nổi bọt,rỗ,sàn bị rách . Ngoài ra, độ bám dính cũng không được tốt.

Nếu muốn epoxy có được độ mài mòn cao thì bắt buộc khi thi công phải thêm vào bột cacbua silic mới có thể có tác dụng chống mài mòn ,nhưng vì độ kết dính của epoxy rất cao nên khi thêm bột cacbua silic vào nếu công nhân đánh bột không đồng đều thì việc phát sinh ra những vấn chất lượng nền không đồng đều cũng sẽ rất nhiều . 

So sánh 5 loại nền phổ biến hiện nay

5. Xi măng tự phẳng – Flat Monkey

Xi măng tự chảy có thể tự động làm lấp đầy các lỗ lồi lõm, mặt nền không bằng phẳng. 

Xi măng tự phẳng có cùng khả năng chống mài mòn như sàn tăng cứng hóa học, với Khả năng sửa chữa các vết nứt trên sàn cũ cao ,chỉ với độ dày 3mm đã đồng thời có được chức năng lấp đầy và mài mòn.


Với nền nhà xưởng và nền nhà cũ thường sẽ bị lỗ rỗ. Chính vì thế, chi phí đổ sàn sẽ rất cao nếu dùng xi măng thông thường để sữa chữa. Nhưng với xi măng tự phẳng với khả năng tự chảy cao, có thể xâm nhập trực tiếp vào các vết nứt. Chỉ với độ dày 3mm độ chống mài mòn sau khi thi công sẽ đạt đến 7.5, độ cứng đạt được M450 mà không cần đến bước xử lý tăng cứng.


Công ty TNHH Vĩnh Thành Kiến Nghiệp là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam cung cấp xi măng tự phẳng Flat Monkey, sản phẩm với nhiều tính năng ưu việt.  Hãy liên hệ với chúng tôi để hiễu rõ hơn về sản phẩm.